Từ lời dạy của Bác đến chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

19/05/2017 | 903

Hồ Chí Minh từ lâu đã trở thành biểu tượng cao quý cho Trí tuệ và Tâm hồn Việt Nam, cho lòng dũng cảm và đức hy sinh, anh hùng và bất khuất, nghị lực phi thường và niềm tin mãnh liệt vào tương lai của dân tộc và con người Việt Nam. Người còn là sự kết tinh và thăng hoa những giá trị văn hóa Việt Nam, đạo đức thanh tao, lối sống cao thượng, sống vì dân, làm tất cả những gì có thể làm được cho dân, cho dân tộc mình cũng như cho cả nhân loại. Bởi thế, Người sống mãi trong lòng dân và trong trái tim nhân loại.

Với Hồ Chí Minh, con người - cuộc đời - sự nghiệp là một. Tư tưởng - phương pháp và phong cách thống nhất hữu cơ với nhau. Tư tưởng sáng tạo, cách tân, đổi mới ngang tầm thời đại. Phương pháp khoa học - cách mạng và hiện đại. Phong cách giản dị, thiết thực và dân chủ. Hồ Chí Minh còn thể hiện nổi bật ở Đạo đức và suốt đời thực hành đạo đức cách mạng. Đạo đức ấy làm nên cái cốt lõi, cốt yếu của nhân cách cộng sản, biểu hiện sinh động và cảm động trong lối sống và lẽ sống của Người, coi phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý lớn nhất, làm đầy tớ, công bộc cho dân là lựa chọn một lẽ sống cao thượng nhất. Chữ “Dân” (nhân dân, quần chúng, đồng bào) nổi bật, nổi trội nhất trong ngôn ngữ của Người. Người thấu hiểu lòng dân, ý nguyện của dân. Người thấu cảm cuộc sống, đời sống của dân. Người quý trọng dân và tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh, sáng kiến và sáng tạo của dân. Người tranh đấu đến cùng cho Độc lập tự do để dân thực sự là chủ và làm chủ. Trí tuệ uyên bác là vậy mà Người vẫn rất mực khiêm nhường, học dân, hỏi dân và luôn tâm niệm rằng, chỉ có làm học trò của quần chúng thì mới lãnh đạo được dân chúng. Thương dân vô hạn là phẩm chất nhân cách cao quý của Người.  Không bao giờ xa dân, suốt đời gần gũi, chan hòa với dân chúng cho dù đã ở đỉnh cao quyền lực - đã trở thành nhu cầu văn hóa, thành lối sống văn hóa của Người.

Đó là đạo làm người “Thân dân” và “Chính tâm” mà Người đã thực hành suốt đời, đã nâng cao đạo lý thánh hiền ấy của ông cha ta thành đạo làm người của người cách mạng. Ấy là Dân chủ và Cần Kiệm Liên Chính; Chí công vô tư. Cũng như vậy, Hồ Chí Minh đã thực hành triết lý “Vô ngã vị tha” để quên mình và dâng hiến, với sức mạnh đánh thắng giặc nội xâm là chủ nghĩa cá nhân, với bản lĩnh tuyệt đối không màng danh lợi, ở ngoài vòng danh lợi. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và thực tiễn đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành giá trị văn hóa và Người đã từ định hướng giá trị đó mà xây dựng quan niệm lý luận về chủ nghĩa xã hội Việt Nam, về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền vì dân, là Đảng chân chính cách mạng, tiêu biểu cho đạo đức và văn minh, về nhà nước pháp quyền dân chủ của dân, do dân và vì dân. Muốn cho việc cầm quyền được đúng đắn, muốn cho việc nắm giữ quyền lực không rơi vào thoái hóa, hư hỏng thì cách tốt nhất là phải dựa vào dân, để cho dân giám sát, kiểm tra, phê bình và giúp đỡ. Sức của dân rất mạnh. Lực của dân rất lớn. Trí của dân rất sáng. Tâm của dân là thiện tâm, trong lành, bao dung, độ lượng. Dựa vào dân và biết vì dân thì dân tin, dân theo, dân ủng hộ, dân giúp đỡ, dân bảo vệ. Bởi thế dân là thành trì của cách mạng, là sức mạnh bền bỉ, đáng tin cậy nhất để sinh mệnh của Đảng được bảo vệ, để chế độ được bền vững.

Di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là vô cùng phong phú và sâu sắc, có giá trị khai sáng (khai trí, khai tâm) và chỉ dẫn thực hành một cách thiết thực cho mỗi người chúng ta.

Có thể thấy trong những lời dạy của Người những gợi ý cụ thể để thực hành tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp. Nói tới nghề nghiệp là nói tới lao động, tới hoạt động, gắn với những công việc, việc làm hàng ngày của mỗi người, mỗi tập thể.

Bác Hồ tự xác định nghề nghiệp của mình là làm chính trị, tự nhận mình là nhà chính trị chuyên nghiệp. Mà chính trị theo quan niệm của Người là vì Độc lập và Tự do của Tổ quốc và dân tộc, vì hạnh phúc của đồng bào mình, của các dân tộc trên quả đất. Người xác định, chính trị là đoàn kết và thanh khiết. Đó là đạo đức trong chính trị. Người xác định động cơ, mục đích hoạt động của mình là vì cơm ăn, áo mặc, nhà ở, học hành, chữa bệnh của mỗi người, vì quyền tự do, hạnh phúc, làm chủ của đồng bào. Người cũng tự xác định, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, như người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào ra mặt trận, toàn tâm toàn ý vì công việc, vì nhân dân, không phụ lòng dân, không tự đánh mất niềm tin của dân.

Nói tới những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức chung, Người nhấn mạnh tới dân, phải biết sống và làm việc vì dân, làm điều lợi cho dân, tránh điều hại tới dân. Việc gì có lợi cho dân thì phải làm, khó mấy cũng phải làm cho bằng được. Việc gì có hại tới dân thì quyết tránh cho bằng được, dù chỉ là một cái hại nhỏ. Nói tới dân cũng là nói tới Nước, cho nên phải tỏ rõ lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân để tận hiến cho dân tộc và nhân loại. Đạo đức nghề nghiệp cũng đồng thời là đạo đức phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Muốn có đạo đức ấy phải rèn luyện suốt đời, luôn hướng tới hoạt động, việc làm chứ không nói suông. Đạo đức hành động đòi hỏi người có đạo đức cũng đồng thời phải có năng lực. Đức là gốc, tài là quan trọng. Bởi vậy phải thực hành phương châm nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động, lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau. Người nêu yêu cầu chuẩn mực đạo đức trong “Tư cách của người cách mạng”, với tự mình, với tổ chức, đoàn thể, với công việc. Người nêu rõ, với mình phải nghiêm, với người phải rộng lòng khoan thứ. Người còn đặc biệt nhấn mạnh, phải giữ chủ nghĩa cho vững, phải ít lòng tham muốn về vật chất. Đây là 2 yêu cầu khái quát chung, nói lên phẩm chất đạo đức của cán bộ đảng viên và quần chúng.

Người đòi hỏi đảng viên cán bộ phải tiên phong gương mẫu, đảng viên phải “đi trước” để “làng nước theo sau”. Với công chức, Người đặt ra hàng loạt yêu cầu: thạo chính trị, giỏi chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ, tận tụy mẫn cán, hết lòng hết sức phục vụ dân, dân chủ chứ không biến thành quan chủ, đầy tớ công bộc của dân chứ đừng vênh mặt, lên mặt quan cách mạng. Biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, đã phục vụ nhân dân thì việc gì cũng cao quý, tự nguyện tự giác làm việc, chấp hành sự phân công của tổ chức, không tị nạnh, không so bì thiệt hơn, không tự kiêu, tự mãn, phải hết sức khiêm nhường, phải có lòng vị tha, nhân ái, khoan dung.

Người đề cập đến những người cụ thể, những việc và công việc cụ thể để bàn tới đạo đức nhà giáo, đạo đức khoa học, đạo đức thầy thuốc (y đức), người làm nghề tư pháp, “phải thiết diện vô tư”, đạo đức công nhân, nông dân phải thể hiện ra năng suất - chất lượng - hiệu quả. Tiết kiệm từng đồng tiền bát gạo làm ra từ mồ hôi, nước mắt của dân. Thương dân thì phải tiết kiệm. Lãng phí là không thương dân. Tham ô là ăn cắp của dân, là có tội với dân, với đảng, với cách mạng.

Nói tới đạo đức, Người còn nhấn mạnh, phải dám chịu trách nhiệm, cả quyết sửa lỗi lầm, công khai nhận lỗi để quyết tâm sửa lỗi, như thế sẽ làm cho dân tin, dân ủng hộ. Đừng để dân mất niềm tin, đừng để nhân dân oán ghét, xa lánh. Những chỉ dẫn như thế, đều có thể vận dụng vào nghề nghiệp, thành ra đạo đức nghề nghiệp. Phải vô tư và trong sáng, không hám danh, háo danh, không tham chức, hám quyền. Thắng lợi thì không chủ quan, không kiêu ngạo, thất bại thì không vội bi quan chán nản. Tuổi trẻ phải ham làm việc lớn, ích quốc lợi dân chứ không ham làm quan to… Sâu xa ra, mọi đạo đức nghề nghiệp đều phải VÌ DÂN chứ không vì MÌNH.

Di chúc thấm sâu và nổi bật trong 1000 từ mà Người để lại là đạo đức, nhân cách cao quý của Người.

Vận dụng những lời dạy của Bác, có thể xác định những chuẩn mực chung về đạo đức nghề nghiệp, tiếp theo phải cụ thể hoá vào từng nghề cụ thể, từ lao động giản đơn tới lao động phức tạp, tới công việc lãnh đạo quản lý với trách nhiệm nặng nề do dân uỷ thác, để thực thi có kết quả những công việc được giao, những trọng trách do dân giao phó. Khái quát hệ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo đúng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, có thể xác định những chuẩn mực sau:

- Trung thực, là chuẩn mực hàng đầu, quan trọng nhất. Nó đối lập với sự giả dối và thói cơ hội. Nó đòi hỏi sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, giữa lời nói với việc làm, nói đi đôi với làm. Trung thực với Đời, với người và với chính mình. Có dũng khí phê phán và tự phê phán.

- Tận tụy - là chuẩn mực của lương tâm danh dự, của trách nhiệm, của mục đích, động cơ sống và làm việc. (Tận tâm, tận lực). Người có lòng tận tụy là người chu đáo, đề cao trách nhiệm, tự giác và cần mẫn trong công việc, giúp đỡ người khác, nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, hào hiệp, vô tư, trong sáng.

- Khiêm nhường - là chuẩn mực tự đánh giá bản thân, hòa quyện giữa lý trí và tình cảm đạo đức, phải luôn luôn thực hành trong lối sống. Có khiêm nhường, khiêm tốn mới có ý thức phấn đấu vươn lên, không kiêu ngạo tự mãn, không coi thường người khác trong các mối quan hệ xã hội, trong đời sống hiện thực. Đó cũng đồng thời là lòng tự trọng chính bản thân mình.

- Sáng tạo - là chuẩn mực lao động của mọi người, đặc biệt là của trí thức, của thế hệ trẻ, của những con người có khát vọng vươn tới tự do: Sáng tạo là tìm tòi cái mới, đổi mới, năng động, nhờ đó công việc sẽ không đơn điệu, không nhàm chán. Sức bay của tư tưởng sáng tạo sẽ thúc đẩy đổi mới, phát triển vì mưu cầu hạnh phúc cho dân.

- Vị tha - Nhân ái - Khoan dung. Đây là chuẩn mực trong ứng xử và văn hoá ứng xử, không hẹp hỏi, ích kỷ, không vụ lợi vì mình mà vì người khác, có tình thương yêu, quan tâm tới cuộc sống của những người xung quanh, biết hy sinh, quên mình để toàn tâm toàn ý vì sự nghiệp và lý tưởng phục vụ nhân dân. Độ lượng khoan dung không chỉ là tha thứ, cảm thông mà sâu xa còn là tinh thần dân chủ, chấp nhận sự khác biệt, sự thống nhất trong đa dạng. Không áp đặt ý kiến của mình cho người khác. Biết lắng nghe.

Với hệ chuẩn mực nêu trên, ứng vào từng nghề nghiệp, từng cương vị công tác, từng người, chúng ta có thể thực hiện được, tự mình đánh giá chính mình, tập thể và cộng đồng sẽ cùng phối hợp, giúp cho mỗi người và mọi người cùng tiến bộ, cùng phát triển. Các chuẩn mực nêu trên gắn liền với nhau, thể hiện 4 đức cần kiệm liêm chính và 2 nguyên tắc ứng xử: chí công vô tư mà Bác Hồ đã dạy chúng ta, đã suốt đời thực hành mẫu mực để chúng ta noi theo, làm theo.

Thực hiện những chuẩn mực đó cũng là để xây dựng đạo đức, nhân cách, xây dựng môi trường làm việc, hoạt động thực sự là môi trường văn hoá đạo đức. Đó cũng là những chuẩn mực thể hiện được Văn hoá Hồ Chí Minh mà chúng ta cần học tập và làm theo để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xứng đáng là đạo đức, là văn minh./.

GS.TS Hoàng Chí Bảo

Chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương

 

 


Các bài viết khác

Để học tập và làm theo Bác trở thành việc làm thường xuyên hằng ngày

Để học tập và làm theo Bác trở thành việc làm thường xuyên hằng ngày
10 ngày trước

Nhớ lời Bác Hồ dạy

Nhớ lời Bác Hồ dạy "Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất"
1 tháng trước

Lễ Kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc

Lễ Kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc
1 tháng trước

Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở chi bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở chi bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1 tháng trước

• Học tập và làm theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ (2 tháng trước)

• Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, không được làm việc gì trái ý dân (2 tháng trước)

• Tài liệu sinh hoạt chi bộ chuyên đề xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh (7 tháng trước)

• Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương (8 tháng trước)

• Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1 năm trước)

• Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao hiệu quả tự phê bình và phê bình (1 năm trước)

• Học tập và làm theo phong cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1 năm trước)

• Học tập và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng (1 năm trước)

• Cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nguy cơ của đảng cầm quyền (1 năm trước)

• Cảnh báo của Bác Hồ về sự suy thoái của cán bộ, đảng viên (1 năm trước)