NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG, PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐẢNG VIÊN TRONG VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ, HẢI QUAN NHẰM GÓP PHẦN CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH, NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA

21/10/2015 | 547

Tham luận của đồng chí Nguyễn Ngọc Túc, Tổng Cục trưởng Tổng Cục Hải quan, thay mặt Đoàn đại biểu Đảng bộ Bộ Tài chính phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương khóa XII, nhiệm kỳ 2015-2020.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Hoàn thiện bộ máy nhà nước, tạo bước chuyển mạnh về cải cách hành chính là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm thực hiện thắng lợi Chiến lược. Thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính và hiện đại hoá nền hành chính quốc gia. Công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân giám sát việc thực hiện. Tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm trong hoạt động công vụ. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước các cấp”. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30c/NQ-CP, ngày 08/11/2011 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020; Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015 - 2016.

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chinh phủ, đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa thuế, hải quan là một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhằm bảo đảm hiệu quả và hiệu lực của quản lý nhà nước về thuế và hải quan. Qua đó, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, du lịch phát triển; duy trì sự ổn định, bền vững nền kinh tế bền vững của đất nước, phát triển sản xuất, thu hút đầu tư nước ngoài; đồng thời thực hiện chống gian lận thương mại, trốn thuế, hàng lậu, hàng giả, hàng hóa nhập khẩu vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng, hàng hóa để bảo vệ an ninh, an toàn xã hội. Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa thuế, hải quan. Thời gian qua, Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính, Đảng ủy cơ quan Bộ Tài chính đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng và đảng viên trong toàn Đảng bộ triển khai, thực hiện nhiều giải pháp quyết liệt về cải cách hành chính đối với lĩnh vực thuế, hải quan và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng; bước đầu được Đảng, Nhà nước, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận. 

Phần thứ nhất: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức đảng và kết quả chủ yếu đạt được đối với công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa thuế, hải quan

1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức đảng và vai trò của đảng viên đối với công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa thuế, hải quan

Thực hiện Chỉ thị số 03 của Bí thư Ban cán sự, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Đảng ủy cơ quan Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan đã ban hành 08 nghị quyết chuyên đề nhằm lãnh đạo công tác tổ chức cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan.

Đảng ủy cơ quan đã phân công trách nhiệm tổ chức triển khai, thực hiện đối với từng đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng ủy; gắn với lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của từng cá nhân phụ trách. Đồng thời, chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội như: Công đoàn, Đoàn Thanh niên Tổng cục có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các nội dung, chương trình, kế hoạch về cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan; xây dựng các chương trình, kế hoạch, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về cải cách hành chính đối với đoàn viên thuộc tổ chức mình. Qua đó, giúp cho các đơn vị trong cơ quan có sự thống nhất về nhận thức và hành động, xác định rõ: cải cách hành chính là mục tiêu, động lực, là sự tồn tại và phát triển tất yếu của cơ quan Thuế, Hải quan Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Đảng ủy cũng đã chỉ đạo các chi bộ, đảng bộ trực thuộc và đảng viên có trách nhiệm tham mưu cho đơn vị cụ thể hóa các nghị quyết, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của Bộ Tài chính về cải cách hành chính vào các kế hoạch, chương trình, nhiệm vụ công tác hàng tháng, hàng năm của từng đơn vị đảm bảo có tính khả thi cao. Định kỳ, Đảng ủy cơ quan đã tiến hành kiểm tra, giám sát và yêu cầu các chi bộ, đảng bộ trực thuộc, các tổ chức đoàn thể tự kiểm tra và báo cáo kết quả việc thực hiện cải cách hành chính của đơn vị, trong đó đánh giá rõ ưu điểm, hạn chế, rút ra bài học kinh nghiệm và làm rõ vai trò của từng đảng viên, công chức, viên chức trong đơn vị đối với công tác này. 

2. Kết quả đạt được trong cải cách hành chính, hiện đại hóa thuế, hải quan

2.1. Kết quả xây dựng thể chế, chính sách về thuế, hải quan

Đã xác định sửa đổi, bổ sung thể chế chính sách là cơ sở nền tảng của cải cách thủ tục hành chính; Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính đã tập trung chỉ đạo:

- Về cải cách thể chế trong lĩnh vực thuế: Tháng 10/2014 đã trình Quốc hội thông qua Luật số 71 sửa đổi, bổ sung một số điều của 5 Luật thuế; trình Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 Nghị định; Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 119/2014/TT-BTC sửa 7 Thông tư. Nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng là: giảm tần suất kê khai khi nộp thuế của doanh nghiệp (quan trọng như: Thuế GTGT 12 lần còn 4 lần; Thuế TNDN 5 lần còn 1 lần; …); bỏ các bảng kê, chứng từ phải nộp cơ quan thuế không cần thiết; đơn giản mẫu tờ khai các loại thuế phù hợp với thông lệ quốc tế;…

- Về cải cách thể chế trong lĩnh vực Hải quan: Tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực hải quan, quan trọng nhất, ngày 23/6/2014, Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Hải quan thay thế Luật Hải quan số 29/2001/QH10 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 năm 2005. Luật Hải quan năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hiện đại hóa toàn bộ hoạt động hải quan và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, đáp ứng yêu cầu quản lý hải quan hiện đại, tiên tiến với nhiều chế định, quy định thể hiện tinh thần cải cách hành chính một cách mạnh mẽ; phù hợp với các hiệp định, cam kết quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã ký kết, tham gia. Trình Chính phủ ban hành 3/3 nghị định; các Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Hải quan năm 2014; ban hành các quy trình, quy chế nghiệp vụ trong nội bộ ngành Hải quan, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, rõ ràng cho công tác quản lý Nhà nước về hải quan.

2.2. Kết quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính ứng dụng công nghệ thông tin

- Đối với Tổng cục thuế:

Mục tiêu: Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ yêu cầu giảm thời gian tuân thủ thuế và bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam từ mức 872 giờ (năm 2013), giai đoạn 2014 - 2015 xuống ngang bằng với mức trung bình của các nước ASEAN 6 là 171 giờ/năm (trong đó thuế là 121,5 giờ, bảo hiểm xã hội là 49,5 giờ).

Trên cơ sở sửa đổi thể chế, chính sách, đã tổ chức hướng dẫn doanh nghiệp khai thuế điện tử qua mạng internet thay cho khai bằng giấy và phải đi đến cơ quan thuế để nộp; đến nay, số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử chiếm 97% số doanh nghiệp đang hoạt động. Đồng thời, thực hiện nộp thuế điện tử và phối hợp thu thuế qua ngân hàng thương mại được triển khai từ tháng 2/2014, đến đầu tháng 9/2015 đã có 82,2% số doanh nghiệp đang hoạt động tham gia dịch vụ nộp thuế điện tử và phấn đấu đến hết năm 2015 đạt ít nhất 90% các doanh nghiệp tham gia.

Với những cải cách chính sách và thủ tục hành chính thuế như trên, thời gian nộp thuế của Việt Nam đã giảm được 410 giờ, còn 127 giờ (537 giờ - 410 giờ). Những kết quả cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế này được cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận đánh giá cao.

- Đối với Tổng cục Hải quan:

(1) Sau 2 năm chuẩn bị, từ 25/4/2014 tiếp nhận và vận hành hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS) do Chính phủ Nhật Bản viện trợ không hoàn lại. Nhờ đó, thủ tục hải quan bao gồm từ doanh nghiệp lập, nộp tờ khai hải quan; xử lý tờ khai hải quan và ra quyết định thông quan của cơ quan hải quan được thực hiện bằng phương thức điện tử, sử dụng chứng từ điện tử và tự động hóa 100% trên cơ sở mạng internet. Việc triển khai hệ thống VNACCS/VCIS đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiết kiệm thời gian thông quan, giải phóng hàng, giảm chi phí, nhân sự trong quá trình làm thủ tục hải quan, thay đổi nhận thức và phương pháp quản lý hải quan. Đây là sự kiện quan trọng trong quá trình cải cách, hiện đại hóa Hải quan. Từ khi triển khai chính thức Hệ thống VNACCS/VCIS (01/4/2014) đến ngày 15/8/2015 đã có 100% Cục Hải quan, 100% Chi cục Hải quan thực hiện hệ thống VNACCS/VCIS với 62,5 nghìn doanh nghiệp tham gia, tổng số tờ khai đạt 9,9 triệu tờ khai; tổng kim ngạch XNK đạt 396,3 tỷ USD đã chứng minh tính hiệu quả và lợi ích của thủ tục hải quan điện tử. (Từ 01/01/2015, theo quy định của Luật Hải quan, doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện khai báo hải quan và nhận kết quả được thực hiện bằng phương thức điện tử).

(2) Triển khai Cơ chế Một cửa quốc gia và một cửa ASEAN: Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan đã triển khai thực hiện theo đúng tiến độ kế hoạch đã được Ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN và Cơ chế một cửa quốc gia. Đến nay đã kết nối thành công giữa 9 Bộ, ngành (Bộ Tài chính, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ) và đã kết nối kỹ thuật với 04 quốc gia trong ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philipin, Singapore) nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tính đến 30/6/2015 có 1.802 doanh nghiệp đã thực hiện khai báo thủ tục cảng biển trên Cổng thông tin một cửa quốc gia bằng phương thức điện tử với tổng số 4.682 hồ sơ (2.505 hồ sơ nhập cảnh, 2.161 hồ sơ xuất cảnh, 16 hồ sơ quá cảnh). Về thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu D, hiện có 1.303 hồ sơ đã được xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia.

(3) Từ 01/11/2014, thanh toán thuế điện tử trong toàn hệ thống cơ quan hải quan với doanh nghiệp; tự động hạch toán kế toán, thanh khoản nợ, thông quan hàng hóa cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

(4) Để đảm bảo tính đồng bộ, đồng thời thực hiện việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính và đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất của ngành Hải quan. Đến nay, 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng thư điện tử trong công việc; 100% văn bản, thông báo điều hành, báo cáo của Bộ, của Tổng cục được quét thành file điện tử đưa lên mạng Netoffice của Tổng cục Hải quan. Lắp đặt 11 hệ thống máy soi container tại các địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung, địa bàn trọng điểm. Đã soi chiếu 53.497 cont, chiếm 33,84% số lượng cont luồng đỏ, tỷ lệ phát hiện vi phạm 237 trường hợp trị giá hàng vi phạm hàng nghìn tỷ đồng; đã đưa vào sử dụng 97 máy soi hành lý, hàng hóa; 19 hệ thống camera giám sát, cùng các hệ thống, thiết bị an toàn phóng xạ và các trang thiết bị kiểm tra, giám sát (máy soi hành lý, hàng hóa, cân ô tô).

Nhờ thực hiện các giải pháp trên, thực tế thời gian thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu đã giảm lớn: Kết quả đo thời gian giải phóng hàng tại Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn Khu vực 1 (đơn vị có khối lượng công việc lớn nhất tháng 10/2014) trên cơ sở dữ liệu thông tin của Hệ thống VNACCS/VCIS: Thời gian đăng ký tờ khai hải quan 3 giây. Thời gian trung bình từ khi tờ khai được đăng ký đến khi thông quan/giải phóng hàng: Nhập khẩu: 34 giờ 32 phút 14 giây, giảm 7,6 giờ (tương đương với 18%) so với năm 2013 (42:07:40); Xuất khẩu: 6 giờ 58 phút 55 giây, giảm 9,6 giờ (tương đương với 58%) so với năm 2013 (16 giờ 36 phút 10 giây), riêng đối với lô hàng xuất khẩu phân luồng xanh, không thuộc đối tượng nộp thuế thì thời gian này chỉ có 04 giây.

(5) Để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời đảm bảo quản lý chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, giảm thời gian thông qua hàng hóa xuất khẩu Tổng cục Hải quan đang chủ trì phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tích cực xây dựng Đề án “Nâng cao năng lực và hiệu quả của công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu” để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, làm cơ sở triển khai thực hiện.

- Công tác tuyên truyền, đào tạo hỗ trợ doanh nghiệp:

 Thực hiện chỉ đạo của Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính, Đảng ủy cơ quan Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, đào tạo hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện khai nộp thuế, hải quan điện tử; đồng thời định kỳ thực hiện các hoạt động đối thoại với doanh nghiệp; kịp thời giải quyết những kiến nghị, khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, được doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá tích cực.

- Công tác cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức hải quan; công tác cải cách tài chính công:

Tập trung chỉ đạo tiếp tục kiện toàn, sắp xếp lại tổ chức bộ máy thuế, hải quan, gọn nhẹ, phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ; nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu quản lý hiện đại theo nguyên tắc tập trung, thống nhất. Xây dựng lực lượng thuế, hải quan trở thành lực lượng chuyên nghiệp, có chuyên môn sâu, hoạt động minh bạch, liêm chính có hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục phát huy hiệu quả việc thực hiện cơ chế khoán biên chế và kinh phí hoạt động theo quy định nhằm đảm bảo phù hợp với tiến trình cải cách, hiện đại hóa.

Phần thứ hai: Một số kiến nghị về tăng cường sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng trong Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa thuế, hải quan trong thời gian tới

1. Mục tiêu: Giai đoạn 2016 - 2020, Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính đã chỉ đạo đối với cơ quan Tổng cục thuế, Tổng cục Hải quan

Đối với cơ quan Tổng cục Thuế yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP đến năm 2016, thời gian doanh nghiệp kê khai nộp thuế, bảo hiểm xã hội là 168 giờ bằng mức ASEAN 4 (theo đó thuế 119 giờ, bảo hiểm xã hội 49 giờ); 2016-2020: thực hiện ứng dụng CNTT cấp độ 4 về khai thuế, nộp thuế đối với người nộp thuế; thực hiện quản lý rủi ro, phòng chống gian lận trốn thuế, vi phạm pháp luật trong hoàn thuế GTGT.

Đối với cơ quan Hải quan: đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan, phấn đấu đến năm 2020 có 100% các Cục Hải quan, 100% các Chi cục hải quan, 100% các loại hình cơ bản, 99% kim ngạch XNK. 100% doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan điện tử; tỷ lệ các giấy phép XNK các giấy chứng nhận kiểm tra kết quả vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng hàng hóa thực hiện qua Cơ chế một cửa Quốc gia bằng phương thức điện tử là 90%; Thực hiện thủ tục hải quan “Mọi lúc - Mọi nơi - Mọi phương tiện” số giờ giải quyết thủ tục hải quan đạt ngang bằng và vượt ASEAN 4.

2. Giải pháp

 Một là, về cải cách thể chế, thủ tục hành chính: Đảng ủy cơ quan Tổng cục thuế, hải quan cần phải ban hành kịp thời các Nghị quyết chuyên đề, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng thể chế, chính sách; chỉ đạo xây dựng trình Quốc hội thông qua Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi); Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế: GTGT, TTĐB, Quản lý thuế (tại kỳ họp của Quốc hội tháng 10, 11/2015); chuẩn bị nghiên cứu bổ sung những Luật thuế quan trọng (TNDN, TNCN, thuế sử dụng đất nông nghiệp…) trong nhiệm kỳ Quốc hội 2016 - 2020.

Hai là, đẩy mạnh ứng dụng phương thức quản lý thuế, hải quan hiện đại: Áp dụng quản lý rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan theo chuẩn mực của thuế, hải quan quốc tế, song song với triển khai toàn diện công cụ thanh tra, kiểm tra thuế, kiểm tra sau thông quan (hậu kiểm), kiểm soát hải quan (chống buôn lậu, gian lận thương mại) và thực hiện giám sát hải quan trực tuyến thông qua Trung tâm kiểm tra, giám sát hải quan trực tuyến.

- Xây dựng chế độ quản lý rủi ro đối với doanh nghiệp thuộc đối tượng thanh tra, kiểm tra về thuế, hải quan và ban hành quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp.

 - Sửa đổi, bổ sung những quy định đối với hoạt động của các tổ chức hành nghề đại lý thuế, hải quan nhằm phát triển hệ thống đại lý thuế, hải quan ở Việt Nam, giúp doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính thuế thông qua các đại lý thuế, đại lý hải quan.

- Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin cấp độ 4 trong tất cả các khâu đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế (tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả qua mạng). Phấn đấu và duy trì đạt 95% doanh nghiệp khai thuế điện tử, nộp thuế điện tử và hoàn thuế.

- Thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về người nộp thuế, người khai hải quan và kết nối thông tin giữa 2 cơ sở dữ liệu quan trọng này để thực hiện quản lý thuế, hải quan theo nguyên tắc quản lý rủi ro; qua đó phòng ngừa các hành vi gian lận, trốn thuế, chống thất thu, chống gian lận về khấu trừ, hoàn thuế GTGT.

- Xây dựng và công khai thông tin về việc giải quyết thủ tục để người nộp thuế tra cứu, theo dõi qua mạng. Phấn đấu 90% hồ sơ hoàn thuế được giải quyết đúng thời gian theo quy định; 90% hồ sơ khiếu nại của người nộp thuế được giải quyết đúng thời gian theo quy định của pháp luật.

Ba là, tiếp tục tục triển khai, thực hiện có hiệu quả công tác dân vận:  Để công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế và hải quan thành công, bên cạnh cố gắng nội lực thì cần sự ủng hộ, quan tâm, chỉ đạo của cấp trên; sự hiểu, phối hợp, hỗ trợ, đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, do vậy, công tác dân vận đối với cơ quan thuế, hải quan trọng tâm là: Cải cách hành chính, nâng cao năng lực quản lý nhà nước nhằm giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp trong lĩnh vực thuế, hải quan, tăng sự hài lòng của doanh nghiệp, người dân; sửa đổi lối làm việc theo hướng dân chủ hóa, công khai hóa, điện tử hóa; nêu cao đạo đức công vụ, chống quan liêu, hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu doanh nghiệp, người dân.

Bốn là, xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra, đôn đốc các đảng bộ, chi bộ trực thuộc trong việc triển khai, thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa thuế, hải quan theo chức năng, nhiệm vụ đã được giao của từng đơn vị.

- Công khai, minh bạch pháp luật thuế, hải quan và kết quả hoạt động thuế, hải quan: hoàn thiện hệ thống chỉ số đánh giá hoạt động thuế, hải quan, xây dựng, thực hiện chỉ số đánh giá thời gian trung bình giải phóng hàng, chỉ số về sự hài lòng của khách hàng đối với hoạt động thuế, hải quan; tổ chức định kỳ hoạt động đối thoại giữa thuế, Hải quan - Doanh nghiệp; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được thực hiện thường xuyên, kịp thời.

- Về công tác cải cách quản lý và phát triển nguồn nhân lực: Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống vị trí việc làm, xác định biên chế và xây dựng khung năng lực theo vị trí việc làm; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực thuế, hải quan với số lượng phù hợp, chất lượng cao, chuyên nghiệp, chuyên sâu, hoạt động minh bạch, hiệu quả; tương thích, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, hiện đại hóa nghiệp vụ hải quan.

Năm là, đề nghị Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương nghiên cứu ban hành các nghị quyết chuyên đề và xây dựng chương trình giám sát đối với các đảng ủy bộ, ngành liên quan trong thực hiện công tác cải cách hành chính./.

Còn tiếp...

Ban Biên tập

Nguồn tin: Đang cập nhật
f

Các bài viết khác

Xây dựng và phát triển văn hóa công sở trong các cơ quan, đơn vị ở Trung ương hiện nay

Xây dựng và phát triển văn hóa công sở trong các cơ quan, đơn vị ở Trung ương hiện nay
2 tháng trước

Bảo vệ Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới

Bảo vệ Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới
7 tháng trước

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị trong Đảng

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị trong Đảng
9 tháng trước

Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng Đảng về đạo đức trong giai đoạn hiện nay

Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng Đảng về đạo đức trong giai đoạn hiện nay
10 tháng trước

• Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết hoạt động thực tiễn góp phần vào công tác xây dựng Đảng (1 năm trước)

• Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng (1 năm trước)

• Vai trò của công tác tư tưởng trong tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam hiện nay (1 năm trước)

• Tinh thần “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam (1 năm trước)

• Kế thừa những giá trị Cách mạng Tháng Mười Nga, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới (1 năm trước)

• Tư duy sáng tạo, tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn với Cách mạng Việt Nam (2 năm trước)

• Nhân kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (7-4-1907 - 7-4-2017) : Bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn (2 năm trước)

• Tọa đàm khoa học về “Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương”. (2 năm trước)

• Di huấn chính trị của đồng chí Trường Chinh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua bài báo “Nhiệm vụ cần kíp của dân tộc Việt Nam” (2 năm trước)

• Chăm lo xây dựng Đảng toàn diện (2 năm trước)