KẾT QUẢ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CỦA CẤP ỦY ĐẢNG BỘ TƯ PHÁP TRONG VIỆC LÃNH ĐẠO ĐẢNG VIÊN THAM MƯU, XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

21/10/2015 | 869

Tham luận của Đảng bộ Bộ Tư pháp tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương khóa XII, nhiệm kỳ 2015-2020.

Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Bởi vậy, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, từ đường lối, chủ trương, định hướng lớn đến việc xác định các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc thêm bản chất của Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (...). Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đặt ra nhiệm vụ: “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng luật, pháp lệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng tính khả thi để đưa nhanh vào cuộc sống. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định một trong 3 đột phá chiến lược là “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, trong đó giải pháp trọng tâm là “Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế”.

Trước đó, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 05 năm 2005  của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48) đã xác định mục tiêu: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân”.

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta, trong những năm qua, nhất là trong nhiệm kỳ 5 năm vừa qua, các cấp ủy đảng Bộ Tư pháp luôn xác định việc lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên tham mưu xây dựng và hoàn thiện pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, là yếu tố quan trọng thể hiện vị trí, vai trò của Bộ Tư pháp trong hệ thống chính trị, đồng thời khẳng định những đóng góp của Bộ, ngành Tư pháp cho đất nước.

Là một cơ quan của Chính phủ, với chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, với những nhiệm vụ rất đặc thù như: Lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; kiểm tra, đôn đốc việc soạn thảo các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình; thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo điều ước quốc tế theo quy định của pháp luật; tham gia xây dựng dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan, tổ chức khác chủ trì soạn thảo…, trong nhiệm kỳ vừa qua Bộ Tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta.

1. Kết quả đạt được

1.1. Về lập và triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

- Đối với việc lập Đề nghị về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh: Từ năm 2010 đến nay, Đảng ủy Bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng, trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội 01 Đề nghị của Chính phủ về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII và 07 Đề nghị về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm. Việc lập Đề nghị của Chính phủ luôn bám sát các định hướng đã được xác định trong các Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng; các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị khóa XI; Nghị quyết số 48 và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Nghị quyết 5 năm (2011-2015) và hằng năm của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống.

Đề nghị của Chính phủ về Chương trình khoá XIII đã thể hiện được sự ưu tiên cho các dự án nhằm thực hiện 3 đột phá chiến lược đã được nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, đặc biệt là ưu tiên các dự án phục vụ cho việc tái cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; các dự án luật phục vụ việc triển khai thực hiện Hiến pháp mới liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước, về quyền con người, quyền công dân. Cụ thể, trong Chương trình khóa XIII có 11 dự án thuộc lĩnh vực tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị và 34 dự án thuộc lĩnh vực dân sự, kinh tế do Chính phủ đề xuất. Một số dự án quan trọng cần được ban hành để phục vụ tái cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, chống thất thoát, lãng phí tài sản của Nhà nước đã được đưa vào Chương trình hằng năm như Luật đầu tư công, Luật đấu thầu (sửa đổi), Luật xây dựng (sửa đổi), Luật hải quan (sửa đổi). Đặc biệt là một số dự án luật, pháp lệnh được các vị Đại biểu Quốc hội và nhân dân quan tâm cũng đã được đưa vào Chương trình khóa XIII hoặc đẩy nhanh thực hiện như Luật đất đai (sửa đổi), Luật biểu tình, Luật tiếp cận thông tin, Luật bảo hiểm tiền gửi, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh.

Đảng ủy Bộ đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tham mưu cho Bộ trưởng đề xuất Chính phủ báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh Chương trình để đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đời sống kinh tế - xã hội. Cụ thể là trong thời gian qua, trên cơ sở đề xuất của Chính phủ, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã bổ sung vào Chương trình khóa XIII một số dự án quan trọng như Luật doanh nghiệp (sửa đổi); Luật đầu tư (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung Điều 170 của Luật doanh nghiệp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân; Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH10 về việc ban hành biểu mức thuế suất thuế tài nguyên.

- Đối với việc triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh: Sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh toàn khóa và hằng năm, Đảng ủy Bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phân công cơ quan chủ trì soạn thảo các dự án. Trong từng Quyết định, Bộ Tư pháp đã tham mưu quy định các biện pháp nhằm bảo đảm tiến độ và chất lượng các dự án; qua từng năm, các biện pháp đề ra ngày càng cụ thể, rõ ràng và quyết liệt hơn. Nhiều Hội nghị triển khai Chương trình được Bộ Tư pháp phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành tổ chức để thảo luận các giải pháp bảo đảm thực hiện, xử lý hoặc báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến chỉ đạo xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Đối với các dự án lớn, phức tạp, Bộ Tư pháp đã phối hợp Văn phòng Chính phủ đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn bị báo cáo về những định hướng lớn, các nội dung phức tạp còn nhiều ý kiến khác nhau để trình Chính phủ, Thường trực Chính phủ thảo luận cho ý kiến trước, đảm bảo việc soạn thảo đi đúng hướng (như: Luật đất đai (sửa đổi), Luật cơ yếu, Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật đầu tư công, Luật xây dựng (sửa đổi), Bộ luật dân sự (sửa đổi).

Để bảo đảm chất lượng và tiến độ trình các dự án, với sự phối hợp chuẩn bị của Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ, Chính phủ đã thực hiện nghiêm quy định về việc xem xét, thảo luận các báo cáo quý, 6 tháng và hằng năm về tình hình soạn thảo, trình các dự án luật, pháp lệnh tại phiên họp thường kỳ; mỗi năm tổ chức ít nhất 02 phiên họp chuyên đề về công tác xây dựng pháp luật để xem xét, thông qua các dự án luật, pháp lệnh và cho ý kiến những định hướng lớn xây dựng một số dự án. Do vậy, việc triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XIII (sau khi điều chỉnh, bổ sung) gồm 160 dự án, trong đó Chính phủ được giao trình 142 dự án (chiếm tỷ lệ 88%). Tính đến hết Kỳ họp thứ 9, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII đã thông qua 98 văn bản; trong số này, Chính phủ trình 89 văn bản, chiếm tỷ lệ 90%.

Riêng đối với Bộ Tư pháp, trong nhiệm kỳ khóa XIII, Bộ được giao chủ trì soạn thảo 22 dự án luật, pháp lệnh. Tính đến thời điểm hiện tại, có 15 dự án đã được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua, còn 7 dự án sẽ được thông qua hoặc cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 10 tới dây. 

1.2. Về việc thực hiệnđịnh hướngxây dựng và hoàn thiện pháp luật theo Nghị quyết số 48

Việc lãnh đạo thực hiện 06 định hướng về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đã được Bộ Chính trị xác định tại Nghị quyết số 48 đạt nhiều kết quả, nổi bật là:

Thứ nhất, Đảng ủy Bộ đã lãnh đạo có hiệu quả việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Bộ, Ngành tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tính đến nay, các đạo luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các thiết chế do Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nướcđã tương đối đầy đủ, cơ bản đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan tư pháp từ Trung ương đến địa phương kiện toàn tổ chức, thực hiện quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính, phổ biến, giáo dục pháp luật, quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự, hành chính, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp nhằm đáp ứng ngày càng đầy đủ, thuận lợi các nhu cầu đa dạng của nhân dân, doanh nghiệp; thực hiện xã hội hoá mạnh mẽ các hoạt động bổ trợ tư pháp; kết hợp quán lý nhà nước với tự quản của các tổ chức xã hội nghề nghiệp.

Thứ hai, Đảng ủy Bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, trong đó đáng lưu ý là việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin, bình đẳng giới, bồi thường nhà nước. Cụ thể, dự án Luật tiếp cận thông tin đang được xây dựng (dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 10 tới đây) nhằm bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin với tư cách là quyền cơ bản của công dân có ý nghĩa làm tiền đề, điều kiện cho việc thực hiện các quyền tự do dân chủ khác của con người, của công dân mà Hiến pháp năm 2013 đã quy định, như quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền bầu cử, ứng cử, quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, quyền khiếu nại, quyền tố cáo, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí… Trên cơ sở quy định của Luật đình đẳng giới,Bộ Tư pháp đã tham mưu Chính phủ ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành Luật bình đẳng giới, thực hiện vai trò là cơ quan hướng dẫn việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL, đặc biệt trong công tác thẩm định các dự thảo văn bản QPPL, Bộ Tư pháp đã chú trọng việc thẩm định các nội dung liên quan đến vấn đề giới nhằm mục đích bảo đảm bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng đã tham gia xây dựng Báo cáo thực hiện Công ước CEDAW do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì về những nội dung liên quan thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; xây dựng tham luận “Bộ Tư pháp Việt Nam với việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ (MDGs) và Khả năng thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs)" trong khuôn khổ hội thảo bên lề Hội nghị của liên minh nghị viện thế giới (IPU) liên quan đến vấn đề bình đẳng giới. Để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, Đảng ủy Bộ Tư pháp đã lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu về định hướng lớn sửa đổi Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội khóa XIV cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2.

Thứ ba, lãnh đạo việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Hiện nay, dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi) đã được tổ chức lấy ý kiến nhân dân, được thảo luận cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 8, thứ 9 Quốc hội khóa XIII tiếp tục thể chế các chủ trương của Nghị quyết số 48/NQ-TW về “xác định rõ trách nhiệm pháp lý của chủ sở hữu nhà nước và các chủ sở hữu khác, cơ chế bảo đảm quyền sở hữu và hạn chế quyền sở hữu...”, “hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tôn trọng thoả thuận của các bên giao kết hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế”. Các văn bản pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, quy trình đăng ký, cung cấp thông tin đã được cải tiến, đảm bảo thuận tiện, khoa học và giảm chi phí.

Thứ tư, lãnh đạo việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa - thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội. Luật Hôn nhân và gia ðình (sửa ðổi) ðýợc Quốc hội thông qua nãm 2014 ðã thể hiện một býớc tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền con ngýời trong lĩnh vực hôn nhân và gia ðình với nhiều quy ðịnh cụ thể hõn quyền, nghĩa vụ của các thành viên của gia ðình; ðồng thời, bổ sung một số chế ðịnh mới ðể ðáp ứng yêu cầu của việc thực hiện các quan hệ hôn nhân và gia ðình nhý chế ðộ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, chế ðịnh mang thai hộ vì mục ðích nhân ðạo…  Luật nuôi con nuôi được ban hành năm 2010, điều chỉnh thống nhất vấn đề nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, trong đó có biện pháp bảo đảm tăng cường giải quyết cho trẻ em làm con nuôi trong nước, việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ là biện pháp thay thế cuối cùng sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thu xếp được cho trẻ em làm con nuôi trong nước. Luật Hộ tịch được Quốc hội thông qua năm 2014 đã tạo bước đột phá về thể chế hộ tịch, tạo nền tảng cho những cải cách trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch nói riêng và quản lý dân cư nói chung.

Thứ năm, Đảng ủy Bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, nhất là pháp luật về hình sự, xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, chính sách hình sự được hoàn thiện theo hướng "bảo đảm yêu cầu đề cao hiệu quả phòng ngừa; hạn chế phạt tử hình, giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ đối với các loại tội ít nghiêm trọng" và đã được thể chế hóa tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009, tiếp tục được thể chế hóa tại dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi) - sẽ được Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 10 tới đây. Luật xử lý vi phạm hành chính (VPHC) năm 2012 đã bước đầu thể chế hóa các chủ trương trong Nghị quyết số 48-NQ/TW, thông qua việc quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính, thẩm quyền xử lý VPHC, đặc biệt là thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý VPHC góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch và đảm bảo dân chủ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân

Thứ sáu, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế đã được Đảng ủy Bộ Tư pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, có hiệu quả, trong đó chú trọng rà soát, hoàn thiện pháp luật gia nhập tổ chức quốc tế, khu vực; tương trợ tư pháp; ký kết và gia nhập Điều ước quốc tế; trọng tài, hòa giải thương mại. Các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật của Bộ Tư pháp trong thời gian qua đã góp phần tích cực vào quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cụ thể là: (i) Nhiều khuyến nghị cụ thể từ các nghiên cứu được thực hiện với sự hỗ trợ của nước ngoài đã được tiếp thu, vận dụng có chọn lọc vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Kết quả là rất nhiều dự án Luật, các văn bản dưới luật và các văn bản pháp lý khác đã được xây dựng và triển khai thực hiện hiệu quả trên thực tế thông qua sự hỗ trợ của các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật, (ii) Thông qua các hoạt động trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và chuyển giao kiến thức, trình độ hiểu biết cũng như kỹ năng của các chuyên gia pháp luật Việt Nam đã được nâng lên đáng kể; một số lượng đáng kể cán bộ làm công tác xây dựng, thực thi pháp luật được đào tạo cơ bản tại các nước có hệ thống pháp luật phát triển, sử dụng được một trong những ngoại ngữ thông dụng, đã và đang góp phần tích cực cho nỗ lực xây dựng và bổ sung lực lượng cán bộ cho các thiết chế pháp luật và tư pháp, đồng thời chuẩn bị đội ngũ cán bộ cho tương lai; bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo luật của Việt Nam cũng đẩy mạnh hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với các cơ sở đào tạo luật nước ngoài; (iii) nhiều hội nghị, hội thảo có mục đích tuyên truyền, phổ biến các bài học kinh nghiệm trong thi hành pháp luật đã được tổ chức, góp phần nâng cao năng lực xây dựng và thi hành pháp luật; nhiều văn bản pháp luật sau khi được ban hành đã nhanh chóng đến được với cơ quan, tổ chức và người dân.

1.3. Về thực hiện 02 nhóm giải pháp xây dựng và thi hành pháp luật gắn với vai trò của Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý về công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

Thứ nhất, Đảng ủy Bộ Tư pháp đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, đơn vị, các cán bộ, đảng viên thực hiện có hiệu quả vai trò là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992 của Chính phủ; tham mưu cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ tích cực tham gia vào quá trình xây dựng Hiến pháp năm 2013; sau khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua và có hiệu lực thi hành, thực hiện Kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thi hành Hiến pháp.

Thứ hai, lãnh đạo việc tham mưu, xây dựng Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật với chủ trương tiếp tục thực hiện việc đổi mới quy trình xây dựng văn bản QPPL. Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội đã thông qua Luật ban hành văn bản QPPL (trên cơ sở hợp nhất Luật năm ban hành văn bản QPPL 2004 và Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008), với một số điểm mới quan trọng như hoàn thiện hơn khái niệm văn bản QPPL; đổi mới mới một cách cơ bản, toàn diện quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL; làm rõ hơn thẩm quyền, hình thức văn bản QPPL; tăng cường tính công khai, minh bạch trong xây dựng, ban hành văn bản QPPL...

Thứ ba, lãnh đạo các cấp ủy, đơn vị, cán bộ, đảng viên thực hiện tương đối hiệu quả vai trò là cơ quan kiểm soát chất lượng dự thảo văn bản QPPL cho Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, Quốc hội thông qua hoạt động thẩm định, góp ý văn bản QPPL, kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, kiểm soát thủ tục hành chính. Chất lượng thẩm định, góp ý văn bản QPPL được cải thiện, khắc phục tính pháp lý thuần tuý, coi trọng việc bảo đảm tính khả thi của văn bản mặc dù số lượng văn bản được giao thẩm định ngày càng tăng. Nhìn chung, chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật ngày càng được nâng cao, bảo đảm sự phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản phù hợp.

Thứ tư, lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, đơn vị chủ động tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các chủ trương, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác theo dõi thi hành pháp luật, bảo đảm chất lượng, tiến độ ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh; khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản.

2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Bộ Tư pháp đối với công tác quản lý nhà nước về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau đây:

Thứ nhất, trong một số trường hợp, một số nhiệm vụ chính trị chưa được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, nên triển khai thực hiện còn chậm, chất lượng, hiệu quả chưa cao. Việc lãnh đạo, chỉ đạo tham mưu lập Đề nghị của Chính phủ về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh có lúc còn chưa sát sao, còn chưa trù liệu hết được các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thực hiện Chương trình. Trong một số trường hợp, còn chưa kiên quyết đưa ra khỏi Đề nghị của Chính phủ về Chương trình đối với các dự án chưa có lập luận thuyết phục về sự cần thiết, chưa rõ phạm vi điều chỉnh, hay nội dung còn có sự trùng lặp, chồng chéo. Do vậy, tính khả thi của Chương trình còn chưa cao, vẫn phải đề nghị điều chỉnh (xin lùi thời hạn trình, xin rút). Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống pháp luật của nước ta, tuy được sửa đổi, bổ sung, ngày càng hoàn thiện, nhưng còn phức tạp, nhiều quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo, tính khả thi thấp, một số lĩnh vực tư pháp vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thứ hai, việc lãnh đạo, chỉ đạo thể chế hoá một số nội dung mà Nghị quyết số 48 đề ra chưa đạt được kết quả, còn gặp khó khăn do điều kiện kinh tế - xã hội chưa chín muồi, chưa được sự đồng thuận cao của các ngành có liên quan. Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa ở một số lĩnh vực tư pháp còn chậm, chẳng hạn như lĩnh vực luật sư, thi hành án dân sự.

Thứ ba, việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có lúc còn chưa quyết liệt, hiệu quả có lúc còn chưa cao. Công tác thẩm định, chất lượng thẩm định văn bản QPPL tuy đã được cải thiện một bước nhưng tinh thần và nội dung thẩm định vẫn còn nặng về tính pháp lý; một số trường hợp còn thiếu tính bao quát, chưa chú trọng đúng mức đến tính khả thi, tính hợp lý của các quy định trong dự thảo văn bản; một số quy định về thủ tục hành chính chưa được kiểm soát chặt chẽ. Trong một số trường hợp, tuy đã phát hiện ra “vấn đề” nhưng Bộ Tư pháp chưa thuyết phục được cơ quan soạn thảo chỉnh lý. Một số văn bản có dấu hiệu vi phạm pháp luật chưa được phát hiện kịp thời, chỉ được phát hiện khi có phản ánh báo chí hoặc khi dư luận lên tiếng. Một số trường hợp văn bản có dấu hiệu vi phạm pháp luật đã được phát hiện, nhưng chưa được xử lý kịp thời, triệt để; chưa có giải pháp để đảm bảo sự đồng bộ, gắn kết công tác kiểm tra văn bản với công tác theo dõi thi hành pháp luật.Việc khắc phục hậu quả do thực hiện văn bản trái pháp luật gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; việc xử lý trách nhiệm của cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật mới chỉ dừng ở mức phê bình, nhắc nhở, kiểm điểm công chức khi thi hành công vụ; chưa có quy định cụ thể để thực hiện được các hình thức trách nhiệm nghiêm khắc hơn.

Thứ tư, công tác tổ chức thi hành văn bản QPPL chưa được chú trọng tương xứng với công tác xây dựng văn bản QPPL. Việc ban hành pháp luật và thi hành pháp luật chưa được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, một quá trình liên tục theo tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW. Trên thực tế các điều kiện bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật (bộ máy thiết chế, nguồn nhân lực, điều kiện tài chính, cơ sở vật chất...) chưa được xem xét một cách kỹ lưỡng, thận trọng khi ban hành luật, việc đánh giá tác động kinh tế - xã hội trước khi ban hành luật chưa được chú trọng đúng mức.

Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có thể nêu một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

Thứ nhất, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Bộ Tư pháp, các cấp ủy đảng trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật còn thiếu quyết liệt; một số vấn đề đã được xác định trong chương trình, kế hoạch, nhưng thực hiện còn chậm, chất lượng, hiệu quả chưa cao. Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy còn chậm đổi mới, chưa thực sự chủ động, sáng tạo.

Thứ hai, tuy đã ý thức được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, và thời gian gần đây Đảng ủy đã phối hợp khá chặt chẽ với Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ trong việc kiện toàn đội ngũ cán bộ, nhưng còn thiếu các giải pháp mang tính đột phá nên chưa tạo ra bước chuyển biến mạnh. Đội ngũ cán bộ tham gia xây dựng pháp luật vẫn thiếu những chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực pháp luật; một bộ phận còn thiếu kiến thức thực tiễn; chưa khắc phục được căn bản tư duy pháp lý thuần túy. Việc tổ chức các đơn vị xây dựng pháp luật như hiện nay còn phát sinh nguy cơ “chia cắt” công việc.

Thứ ba, sự phối hợp giữa các cấp ủy đảng với chính quyền và các tổ chức đoàn thể trong công tác xây dựng pháp luật ở một số đơn vị chưa thường xuyên, chặt chẽ và hiệu quả.

3. Một số định hướng và giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng Bộ Tư pháp đối với đảng viên trong công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

3.1. Một số định hướng

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật được đặt ra ngày càng bức thiết hơn. Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đặt ra nhiệm vụ: “Tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh; hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp”. Từ nhận định về những hạn chế, yếu kém trong thực hiện 3 đột phá chiến lược “Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, chưa tạo được đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”, dự thảo Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 đã xác định quan điểm phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020, trong đó có nội dung: “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (…). Phát huy mạnh mẽ quyền dân chủ của người dân trong hoàn thiện và thực thi thể chế, pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân”.

Bám sát chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước và thực tiễn hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, các cấp ủy đảng Bộ Tư pháp tập trung lãnh đạo công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật với định hướng sau:

- Tiếp tục tham mưu cho Chính phủ, Quốc hội thể chế hóa đầy đủ, kịp thời, đúng đắn tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013 thành các đạo luật và các văn bản quy định chi tiết và tổ chức thực hiện để đưa Hiến pháp vào thực tiễn cuộc sống, tạo động lực mới cho sự phát triển bền vững của đất nước;

- Tập trung mạnh vào việc hoàn thiện pháp luật nhằm tạo dựng thể chế, cơ chế, chính sách, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, góp phần xây dựng môi trường pháp lý ngày càng minh bạch, an toàn, thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tự do sáng tạo, đầu tư, kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng trong kinh tế thị trường. Chú trọng xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân (nhất là các quyền dân sự, quyền con người trong lĩnh vực tư pháp). Chủ động, tích cực đề xuất các giải pháp xây dựng, hoàn thiện, nâng cao chất lượng pháp luật về dân sự, hình sự, xử lý vi phạm hành chính, ban hành quyết định hành chính.

- Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, nhất là trong lĩnh vựchộ tịch, quốc tịch, bồi thường nhà nước, lý lịch tư pháp, quản lý xử lý vi phạm hành chính, đẩy mạnh việc xã hội hóa một số hoạt động bổ trợ tư phápthi hành án dân sự.

- Tạo chuyển biến mạnh trong hoạt động thẩm định, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, gắn hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật với hoạt động xây dựng, hoàn thiện pháp luật.

- Chuyển trọng tâm chỉ đạo chiến lược từ xây dựng thể chế sang nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật trên các lĩnh vực như: phổ biến giáo dục pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, quản lý xử lý vi phạm hành chính.Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật. Đề cao công tác đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật.

3.2. Một số giải pháp chủ yếu

Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện quản lý nhà nước trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, Đảng ủy Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục thực hiện một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, cùng với Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ Tư pháp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện hiệu quả Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới được Quốc hội thông qua nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật. Chú trọng công tác hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai có hiệu quả quy trình xây dựng chính sách, quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

Thứ hai, lãnh đạo việc kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, chú trọng xây dựng đội ngũ chuyên gia có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, am tường về pháp luật, thành thạo về kỹ thuật lập pháp, lập quy và có kiến thức thực tiễn sâu rộng.

Thứ ba, tăng cường công tác phối hợp giữa cấp ủy với chính quyền, các tổ chức đoàn thể của Bộ Tư pháp và các đơn vị trực thuộc để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật. 

Thứ tư, chú trọng xây dựng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ pháp chế Bộ, ngành nhằm phối kết hợp thường xuyên, hiệu quả giữa Bộ Tư pháp với các Bộ, ngành hữu quan, góp phần phát huy thế mạnh của từng Bộ, ngành và sức mạnh tổng hợp của các Bộ, ngành trong khối cơ quan Trung ương để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của đất nước./.

Ban Biên tập

Nguồn tin: Đang cập nhật

Các bài viết khác

Một số vấn đề về cải cách thể chế hành chính và chế độ công vụ

Một số vấn đề về cải cách thể chế hành chính và chế độ công vụ
1 tháng trước

Xây dựng và phát triển văn hóa công sở trong các cơ quan, đơn vị ở Trung ương hiện nay

Xây dựng và phát triển văn hóa công sở trong các cơ quan, đơn vị ở Trung ương hiện nay
5 tháng trước

Bảo vệ Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới

Bảo vệ Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới
9 tháng trước

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị trong Đảng

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị trong Đảng
1 năm trước

• Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng Đảng về đạo đức trong giai đoạn hiện nay (1 năm trước)

• Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết hoạt động thực tiễn góp phần vào công tác xây dựng Đảng (1 năm trước)

• Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng (1 năm trước)

• Vai trò của công tác tư tưởng trong tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam hiện nay (1 năm trước)

• Tinh thần “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam (1 năm trước)

• Kế thừa những giá trị Cách mạng Tháng Mười Nga, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới (1 năm trước)

• Tư duy sáng tạo, tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn với Cách mạng Việt Nam (2 năm trước)

• Nhân kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (7-4-1907 - 7-4-2017) : Bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn (2 năm trước)

• Tọa đàm khoa học về “Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương”. (2 năm trước)

• Di huấn chính trị của đồng chí Trường Chinh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua bài báo “Nhiệm vụ cần kíp của dân tộc Việt Nam” (2 năm trước)